✦ Dòng Họ Nguyễn Sỹ

Phả Ký

ĐẠI TÔN NGUYỄN SĨ TỘC THẾ HỆ PHẢ KÍ

NGUYỄN KHOA

THẬP NHỊ ĐẠI TỘC TRƯỞNG

1a.

Nguyễn Lựu, Nguyễn Điểm (là sinh đồ)

Nguyễn Khải, Nguyễn Nhị (là hương hiệu)

Nguyễn Hưng, Nguyễn Tán (là hương hiệu)

Nguyễn Liên (là sinh đồ)

1b.

Nguyễn Dương (là Lục hiệu binh)

Nguyễn Nhượng (là sinh đồ)

Nguyễn ???

Nguyễn Phu

Nguyễn Tuyên

Nguyễn Lộc

Nguyễn Nguyên

2a.

Nguyễn Tuần

Nguyễn Thị

Nguyễn Chương

Nguyễn Toàn

Nguyễn Khắc

Nguyễn Kiểm

Nguyễn Nhàn

(Là sinh đồ, địa chính và toà thư kí)

2b.

Nguyễn Mậu

Nguyễn Thọ

Nguyễn Uyển (?)

Nguyễn Kí

Nguyễn Vạn

Nguyễn Ngọc

Nguyễn Cục

3a.

Nguyễn Luật cúng tiền 1 quan

Cha con Nguyễn Hành cúng tiền 1 nguyên

Trưởng chi cúng một lá cờ bằng lụa giá 25 quan

Trưởng chi, người nào cúng riêng liệt như sau:

Nguyễn Luận, Nguyễn Đôn phụng cúng một đôi long đao.

3b.

Nguyễn Kiểm cúng tiền 6 quan

Nguyễn Dũng cúng tiền 1 quan

Nguyễn Hoàng cúng tiền 1 quan

Nguyễn Hoạt cúng tiền 5 mạch

Nguyễn Đồng cúng tiền 1 quan

Nguyễn Bàn cúng tiền 1 quan

Nguyễn Liên cúng tiền 2 quan

Nguyễn Điểm cúng tiền 1 quan

Nguyễn Lưu cúng tiền 1 quan

Nguyễn Thụ

Anh em nhà Nguyễn Nhị cúng 2 quan

Nguyễn Lựu cúng 6 mạch

Anh em nhà Nguyễn Kính cúng 3 quan

Nguyễn Doãn cúng 1 quan

Nguyễn Đương cúng 5 mạch

Nguyễn Lợi cúng 1 quan

4a.

Khải Định năm thứ 6 ngày 14 tháng 7, phụng biên chép như sau:

Thuỷ tổ vâng nhận sắc văn tu sửa phụng thờ tế khí, trong dòng họ ai cúng đồ bao nhiêu thì ghi chép lại như sau:

Tộc trưởng Nguyễn Nghi cúng 1 đôi phượng

Nguyễn Luân cúng 1 đôi gươm dài

Nguyễn Đôn cúng 1 đôi đao lớn

Nguyễn Côn cúng 1 hòm sắc

Nguyễn Trưởng cúng 1 hòm sắc

Nguyễn ... cúng 1 lá cờ hình chữ nhật

Dòng họ tự may 1 lá cờ hình chữ nhật

Nguyễn Tư, Nguyễn Chi, Nguyễn Sĩ cúng 1 đôi biển

Dòng họ mua 1 cuộn hương

Hương lão Nguyễn Năm cúng tiền 1 quan

Hương lão Nguyễn Cụ cúng 1 quan

4b

Nguyễn Cường, Phan Vũ cúng 3 quan

Mẹ con Vũ Chính 3 cúng nguyên

Bà tú Ba cúng 5 quan

Bản thôn 6 quan

Làng Đông 3 nguyên

Thượng An, Thượng Thọ 3 nguyên

...

Hoàng Khác, Nguyễn Túc 6 nguyên

Nguyễn Khoan 2 nguyên

Nguyễn Đương 3 nguyên

Ngô Thận, Nguyễn Lý 3 nguyên

Ngô Lý 2 nguyên

Ngô Thường Ngô Năng 2 nguyên

Nguyễn Luyện, Nguyễn Lữ, Nguyễn, Nguyễn Diễn, Nguyễn Cương 4 nguyên

Bà Kiện bà Ngọc 3 quan

Hoàng Đôn Hoàng Khác ở Ngọc Lâm cúng 3 nguyên

Phan Xương Phan Hải Phan ... cúng 3 nguyên

Võ Quang, Võ Liễm 3 nguyên

Trần Chiêu Trần Diệu Trần Chiếu Trần Tập 5 quan

Nguyễn Bảng Nguyễn Bình Phan Lân 4 nguyên 5 mạch

Bà cụ tổng, bà cụ Hiệ, bà đồng chỉ 3 quan

Nguyễn Khoa, Phan Tự 6 nguyên

Bản tộc công bẩm gồm 515 nguyên

Nạp 121 nguyên 5 mạch

5a


Quan phó cụ Tú Kỳ cụ cử Mỹ

Khoa viên phụ Phan Trung 2 quan

Thung Lĩnh Đặng Đương cúng 6 quan

Quan huyện Xuân Tiêu cúng 3 quan

Nguyễn Cẩn, Phan Cư 6 quan

Nguyễn Kính 3 quan

Trần ... 3 quan

Trần Giáo 3 quan

Ngô Lợi, Võ Chí 3 quan

Thôn Bút Điền ... 3 quan

...................

5b, 6a, 6b chỉ toàn ghi những người cúng tiền, quá dài nên xin lược.

7a.

7.

Sinh đồ của bản thôn là Nguyễn Quý Đường tên chữ là Trung Sĩ phủ quân.

Trung Đãi công sinh hạ được 1 trai 1 gái

Niên hiệu Duy Tân năm thứ 8, nhuận tháng 5, ngày mồng 10 khắc bia ký

Kính nghĩ! Việc trong thiên hạ, có tại nhân thì có kết quả vậy, điều này sáng tỏ ở văn để không quên vậy. Dòng họ ta có 1 toà tổ miếu 3 gian, nghiêm trang uy nghi, hương khói cúng tế đã từ lâu rồi vậy. Đến năm Quý Sửu họ ta từ già trẻ lớn bé bàn việc trùng tu, thu góp tiền để mua gỗ và trù tính mọi thứ. Tới năm Giáp Dần vào mùa hè thì khởi công xây dựng thượng điện. Thợ mộc là Nguyễn Ngẫu người ở bản thôn, thợ nề ngói là Ngô Công Tuất người thôn Đệ Nhất. Còn việc Cán biện là ông Nguyễn Giáo người trong chi, thí sinh Nguyễn Luận, thứ chi Nguyễn Lợi, sinh đồ của chi út Nguyễn Luật. Còn phụ biện là kỳ lão Nguyễn Điển, đốc biện là tộc trưởng Nguyễn Nghị. Làng lấy sắt cột, mái thì có ngói, luyện lấy gạch, đến tháng thì hoàn thành một ngôi miếu mới hoành tráng, việc cúng tế vì thế mà thêm long trọng. Ấy là tạo nhân tốt mà gặp quả đẹp vậy. Xét lẽ! nối chí mà ghi lại việc ấy là hiếu vậy. Kính tôn người thân để dòng họ thêm bền vững.

 

8

Viết Cụ công sinh hạ 2 trai 1 gái, 1 con gái lấy ông Phan Lương người cùng thôn.

Đường thúc trước là phó sở ở bản thôn Nguyễn nhị lang tên chữ là Viết Tịch

Trung Chấp công sinh hạ: 3 nam 3 nữ

Trưởng nữ là Thị Thuỳ lấy ông Phan Văn Chính (?) người thôn Xuân Tiêu. Con gái thứ lấy ông Nguyễn Túc ở bản thôn. Thứ nữ lấy ông Hoàng Khác người thôn Phụng Luật.

Hiển khảo trước là tú tài khoa Ất Dậu của bản triều Nguyễn mạnh đường tên chữ là Trung Hoà, tên huý là Trí, hiệu là Đông Kê Lý Học Trai Chủ Nhân Tiên Sinh. Giỗ ngày mồng 1 tháng 10, mộ táng tại xứ cồn Đán. Sinh năm Kỷ Hợi, mất năm Canh Tuất.

9

Tỷ trước là chính thất của Nguyễn công, con gái đầu nhà họ Ngô, hiệu là Từ Nhuận nhũ nhân. Giỗ ngày 18 tháng 7, mộ táng ở cồn Đán Dưới.

Đường thúc trước là phó sở ở bản thôn Nguyễn quý đường tên tự là Huy An phủ quân. Giỗ ngày 29 tháng 8, mộ táng tại cồn Bôi Diên

Huy Điển công sinh hạ được 2 trai 1 gái. Con gái là Thị Thung lấy ông Trần Giáo (?) người ở bản thôn.

Đường bá trước là tri sự ở bản thôn Nguyễn mạnh đường tên chữ là Văn Đàn. Giỗ ngày 16 tháng giêng.

Viết Vĩnh công sinh hạ 3con trai

Đường bá trước là xã trưởng ở bản thôn Nguyễn mạnh đường tên chữ là Viết Cửu, tên thuỵ là Phác Trực phủ quân. Giỗ ngày mồng 3 tháng 10, mộ táng tại xứ cồn Trì.

Nguyễn nhị lang tên chữ là Viết Hán

10

NGUYỄN SĨ TỘC GIA PHẢ

Thái thuỷ tổ khảo

Huy Viên công sinh được 1 trai 3 gái. Con gái đầu lấy ông Nguyễn Tố ở phường Cương Hưng (?). Con gái thứ lấy Nguyễn Dĩnh ở phường Cương Hưng. Con gái thứ nữa lấy người Trung Phường.

Huy Phương công sinh hạ 3 con trai

Đường bá trước nắm chức tri sự kiêm biện lại hương binh Nguyễn mạnh đường tên chữ là Huy Phiên tên thuỵ là Chất Trực.

11

Tỷ là chính thất của Nguyễn công, con gái út nhà họ Võ, hiệu là Từ Nhị nhũ nhân. (người thôn Hậu Luật). Giỗ ngày mồng 10 tháng 9, mộ táng tại xứ Tường Kiên.

Tỷ là chính thất của Nguyễn công, con gái đầu nhà họ Phan, hiệu là Từ Trang nhũ nhân. Giỗ ngày 28 tháng 9.

Đường thúc Nguyễn tứ lang tên chữ là Trung Phảng. Giỗ ngày mồng 6 tháng 2.

Bá Ngọc công sinh được 3 trai 1 gái. Con gái Thị Duyên lấy người thôn Vân Tập.

Hiển khảo trước theo Nho học, là sinh đồ ở bản thôn Nguyễn mạnh đường tên chữ là Thạch Phủ, tên thuỵ là Cẩn Hậu phủ quân.

Tỷ là chính thất của Nguyễn công, là con gái thứ 4 nhà họ Trần, hiệu là Từ nhũ nhân.

12

Trung Điều công sinh được 1 trai 3 gái.

Con gái đầu lấy ông Phan Trung. Con gái thứ lấy ông Phan Tự Đặc là cử nhân, tri huyện. Con gái út lấy chồng ở tổng Lý ?

Hiển khảo là cha của khoa viên, hương khoa thi đậu nhất trường, trải nhận các chức sinh đồ ở bản thôn, tổng hiệu ở bản tổng Nguyễn quý công tên chữ là Doãn Phủ, huý là Chấp, tên thuỵ là Cẩn Khác, tên hiệu là Hoạt Trai phủ quân. Giỗ ngày mồng 10 tháng 3, mộ táng tại xứ Đồng Cửa.

Tỷ là chính thất, con gái đầu nhà họ Võ hiệu là Từ nhũ nhân (người Điển Luật, tổng Lý ? )

Trung Tuần công sinh được 6 trai 5 gái. Con gái đầu lấy tú tài Phan Hữu Đạo ở Xuân Tiêu. Con gái thứ lấy chồng ở bản thôn.

Đường bá Nguyễn nhất lang tên chữ là Trung Đắc. Giỗ ngày mồng 2 tháng giêng.

Hiển khảo Hoa Điện từ đường kiêm tri sự ở bản thôn, thi đậu 1 trường ở khoa thi hương Nguyễn quý công tên chữ là Tịch Trân, tên huý là Đãi, tên thuỵ là Mẫn Trực. Giỗ ngày 24 tháng 11, mộ táng tại xứ Bờ Hoà.

Tỷ là chính thất, con gái thứ 3 nhà họ Nguyễn, hiệu là Từ Văn nhũ nhân. (người thôn Vân Tập). Giỗ ngày 22 tháng 10.

13

Hiển khảo trước là Thọ Ông thuỵ là Chất Phác phủ quân.

Giỗ ngày 12 tháng 9

Tỷ chính thất là con gái thứ 2 nhà họ Vũ (Võ), hiệu là Từ Khoát nhũ nhân. Giỗ ngày 27 tháng 9, mộ tại cồn Đán.

Tỷ kế thất là con gái đầu nhà họ Nguyễn hiệu là Từ Hữu nhũ nhân. Giỗ ngày 20 tháng 11, mộ tại cồn Đán.

Viết Mật công sinh được 2 con trai.

Hiển khảo trước là xã trưởng ở bản thôn, thông hội của hội Thanh Tịch Nguyễn quý công tên chữ là Viết Vĩnh, tên thuỵ là Chất Phác phủ quân.

Giỗ ngày mồng 9 tháng 6, mộ tại xứ Sống Lươn.

Tỷ là chính thất, con gái đầu nhà họ Phan, hiệu là Từ Tường nhũ nhân. Giỗ ngày mồng 4 tháng giêng, mộ tại xứ Tứ Lang

Tỷ là chính thất, con gái đầu nhà họ Phan, hiệu là Từ Ngâm nhũ nhân. Giỗ ngày 12 tháng 6, mộ tại xứ cồn Trì.

14

Văn Khoán công sinh được 2 con trai

Tổ khảo trước là Nhiêu học Nhân lý, kiêm chức dạy dỗ các môn sinh, thi đậu 2 trường hương khoa, thọ đăng 80 tuổi Nguyễn quý công tên tự là Ngọc Hiên, tên huý là Viên, tên thuỵ là Liêm Tĩnh phủ quân. Sinh năm Quý Hợi, mất năm Đinh Mùi. (Ông dạy dỗ môn sinh ước chừng hơn trăm người, hiện nay có Trần Lãng là môn đệ). Giỗ ngày 22 tháng 2. Mộ táng tại thôn Đức Hậu, cồn Nhà Thờ.

Tỷ chính thất là con gái thứ 2 nhà họ Phan, hiệu là Từ Đắc nhũ nhân. Giỗ ngày mồng 8 tháng giêng, mộ tại thôn Đức Hậu.

Hiển khảo trước là hương lão ở bản thôn kiêm dạy dỗ môn sinh, thi đậu 1 khoa thi hương Nguyễn quý công tên chữ là Xuân Du, tên huý là Phương, tên thuỵ là Chất Trực phủ quân. Giỗ ngày 20 tháng 3, mộ tại xứ cồn Đán Dưới.

Tỷ chính thất là con gái thứ 2 nhà họ Nguyễn, tên hiệu là Đắc Thọ nhũ nhân. Giỗ ngày 25 tháng 8, mộ tại xứ Ao Uông.

Huy Tộ công sinh được 1 con trai.

Tổ khảo trước đăng thọ lão, trải nhận chức bái tế ở bản thôn, nhận chức trùm ở bản giáp, Nho trưởng của hội văn, thủ hội hội Tân Lộc, Xuân Diên trùm sắc Nguyễn quý công tên chữ là Hữu Di, tên huý là Điển, hiệu là Đông Giang.

15

Đường thúc trước theo nghiệp nho, kiêm chức tri sự Nguyễn tam lang tên chữ là Trung Lữ. Giỗ ngày mồng 7 tháng 6, mộ táng tại xứ Trung Đồng.

Văn Uý công sinh được 1 trai 4 gái.

Tổ khảo trước có đi thi hương kiêm chức tri sự Nguyễn quý công tên chữ là Văn Nhã phủ quân. Ông sinh 1 người con gái, nay là mẹ của Vũ Chính ở làng Đông. Giỗ ngày mồng 2 tháng 6, mộ tại xứ cồn Đán.

Văn Thư công sinh được 1 con trai

Tổ khảo trước có trải qua các kỳ thi hương kiêm giáo tập môn sinh, đăng thọ vào hàng kỳ lão, trải nhận chức sinh đồ ở bản thôn, thăng chức khai tế nhị tổng Tổng giáo Nguyễn quý công tên chữ là Bá Ngọc, tên huý là Viêm, tên thuỵ là Chất Mẫn phủ quân. Sinh năm Canh Tý, mất năm Ất Tỵ. Giỗ ngày mồng 6 tháng 6, mộ tại xứ Bờ Hoà.

Tỷ chính thất là con gái thứ 6 nhà họ Phan, hiệu là Hữu Nghi nhũ nhân (người họ Phan ở Thượng An). Giỗ ngày 17 tháng 7, mộ tại xứ Bờ Hoà.

Tỷ kế thất là con gái đầu nhà họ Hoàng, hiệu là Từ Đoài nhũ nhân. Giỗ ngày mồng 7 tháng giêng, mộ tại xứ Cồn Đán.

16

Tỷ kế thất là con gái đầu nhà họ Phan hiệu là Từ Liêm nhũ nhân. Giỗ ngày mồng 1 tháng 8, mộ tại xứ cồn Trì.

Huy Vũ công sinh được 3 con trai.

Hiển khảo trước đăng thượng thọ, trải nhận các chức trùm trưởng, trùm khoán, trùm binh ở bản thôn, xã chính ở bản xã, chính quản ở bản tổng kiêm chính tổng khai tế ở 2 tổng Nguyễn quý công tên chữ là Lý Phu, tên huý là Điều, tên thuỵ là Chất Trực phủ quân. Thọ 82 tuổi. Giỗ ngày mồng 7 tháng 12, mộ tại cồn Giá.

Tỷ chính thất, con gái thứ 2 nhà họ Phan, hiệu là Từ Tình nhũ nhân. Bà người làng Hào Kiệt, toàn sinh con gái. Giỗ ngày mồng 4 tháng 2, mộ tại xứ Ông Lân.

Tỷ trắc thất, con gái đầu nhà họ Võ, hiệu là Từ Phẫn nhũ nhân. Giỗ ngày 16 tháng giêng, mộ tại xứ Tường Thánh.

Hiển khảo trước là kỳ lão kiêm sinh đồ ở bản thôn, thi đậu nhị trường khoa thi hương, thăng lên làm khai tế 2 tổng tổng giáo, cai cảng ở càng Tây, trùm cảng ở cảng Nam, tên chữ là Thiện Dụ, tên huý là Tuần, tên thuỵ là Thuần Hậu phủ quân. Sinh năm Kỷ Sửu, thọ 68 tuổi. Giỗ ngày 29 tháng 4, mộ tại xứ Can Ất (Can Lẫm)

Tỷ chính thất, con gái thứ 3 nhà họ Nguyễn hiệu là Từ Minh nhũ nhân. Bà là con gái của lang trung Nguyễn Trung Ngạn người ở thôn Vân Tập, cháu của thượng thư họ Nguyễn. Bà thọ 88 tuổi, khảo tỷ đều song táng tại xứ cồn Đán.

17

Tiên tổ khảo trước là xã trưởng Nhân Lý kiêm Câu đương Nguyễn quý công tên chữ là Văn Thành phủ quân. Giỗ ngày mồng 4 tháng 1, mộ tại xứ cồn Đán.

Tỷ chính thất, con gái đầu nhà họ Phan, hiệu là Từ Vị nhũ nhân. Giỗ ngày 25 tháng giêng.

Tiên tổ khảo trước là xã trưởng Lý Nhân Nguyễn quý công tên chữ là Huy Tộ tên thuỵ là Cương Trực phủ quân. Giỗ ngày 13 tháng 8, mộ tại xứ cồn Đán.

Tỷ chính thất, con gái thứ 3 nhà họ Cao, hiệu là Từ Cẩm nhũ nhân. Mộ tại xứ cồn Đán, giỗ ngày 25 tháng 9, mộ tại xứ Tường Thánh.

Viết Hứa công sinh được 1 con trai

Tiên tổ khảo trước là kỳ lão ở bản thôn kiêm trùm khoán ở khoán Tân Lộc, cai hội ở hội Thanh Tịch, tri hạng ở hạng Nghĩa Lân Nguyễn quý công tên chữ là Trấn Phủ, tên huý là Mật, tên thuỵ là Phác Thực phủ quân. Giỗ ngày 11 tháng 7, mộ tại xứ cồn Trì.

Tỷ chính thất, con gái thứ 2 nhà họ Nguyễn, hiệu là Từ Mông nhũ nhân. Giỗ ngày 14 tháng 6, mộ tại xứ Cồn Trì.

Tỷ kế thất là con gái đầu nhà họ Cao, hiệu là Từ Lân nhũ nhân, giỗ ngày 29 tháng 9.

Tiên tổ khảo trước là Ưu binh kiêm xã trưởng Nguyễn quý công tên chữ là Danh Tể tên thuỵ là Dịch Nghi phủ quân. Giỗ ngày 27 tháng 3.

Tỷ chính thất, con gái đầu nhà họ Nguyễn, hiệu là Từ Hựu nhũ nhân. Giỗ ngày mồng 1 tháng 9, khảo tỷ song táng tại xứ cồn Giá, nay vẫn còn mộ chí.

Tiên tổ khảo trước là trùm trưởng, trải nhận các chức sinh đồ ở bản thôn, thăng lên chức hội hiệu ở bản xã Nguyễn quý công tên chữ là Văn Thư tên thuỵ là Thuần Cẩn phủ quân. Giỗ ngày mồng 2 tháng 3, mộ táng tại xứ Hạ Đồng Cửa.

Tỷ chính thất, con gái đầu nhà họ Trần, hiệu là Từ Huyện nhũ nhân. Giỗ ngày mồng 5 tháng 3.

Văn Quan công sinh được 3 con trai

Tiên tổ khảo trước là ưu binh kiêm xã trưởng Nguyễn quý công tên chữ là Văn Khoán tên thuỵ là Thuần Trực phủ quân. Giỗ ngày 16 tháng 3, mộ tại xứ Tường Thánh.

Tỷ chính thất, con gái thứ 2 nhà họ Nguyễn, hiệu là Từ Toái nhũ nhân. Giỗ ngày 13 tháng 6, mộ tại xứ Sau Nhà. Giỗ ngày 21 tháng 6, mộ tại xứ Hậu Thôn.

 

19

Tỷ trắc thất, họ Phan, hiệu là Từ Dung nhũ nhân. Giỗ ngày 16 tháng 12, mộ tại xứ Ông Huệ.

Quang Trạch công sinh được 3 con trai.

Tiên tổ khảo trước là Nhân Lý từ đường kiêm trùm trưởng, trải nhận các chức hội trưởng văn hội Nguyễn quý công tên chữ là Huy Vũ, tên thuỵ là Chính Trực phủ quân. Giỗ ngày 18 tháng 7, mộ tại xứ Can Lẫm thuộc làng Đông, hiện còn mộ chí.

Tỷ chính thất, con gái thứ 2 nhà họ Nguyễn, hiệu là Từ Trị nhũ nhân. Giỗ ngày 28 tháng 5, mộ tại xứ Mã Liệt (?), hiện còn mộ chí.

Tiên tổ khảo trước là tú tài khoa Ất Mão đời Gia Long, trải nhận chức ở huyện, xã kiêm hương thân, hiệu là An Xuyên bân phủ.

Nguyễn quý công hiệu là Văn Uý tên thuỵ là Tuần Chính tiên sinh, được triều đình phong tặng là “Dực bảo Trung hưng Linh phù”, lại gia tặng: “Đôn ngưng tôn thần”. Các tiết đều dùng thần sắc. Bản xã khai là “An Xuyên linh tú Văn Uý chi thần”. Giỗ vào ngày 18 tháng 3 năm Khải Định thứ 2. Được sắc phong là: “Dực bảo Trung hưng Linh phù tôn thần” lại gia tặng: “Đôn ngưng tôn thần”.

Tỷ chính thất, con gái thứ 4 nhà họ Nguyễn, hiệu là Từ Đa. Giỗ ngày 11 tháng 12. Khảo tỷ song táng tại xứ Sau Nhà, hiện còn mộ chí.

Tỷ chính thất, con gái đầu nhà họ Ngô hiệu là Từ Đao nhũ nhân. Giỗ ngày mồng 7 tháng 10, mộ tại xứ Cồn Đán.

Viết Nguyên công sinh được 3 con trai:

Tiên tổ khảo Nguyễn quý công tên chữ là Viết Hậu tên thuỵ là Kính Trực phủ quân. Giỗ ngày 20 tháng 8.

Tỷ chính thất, con gái đầu nhà họ Trần, hiệu là Từ Khâm nhũ nhân.

Khảo tỷ song táng tại xứ Hậu Thôn.

Tiên tổ khảo trước là xã trưởng Nhân Lý Nguyễn quý công tên chữ là Viết Hiến tên thuỵ là Nhã Thực phủ quân. Giỗ ngày mồng 8 tháng 6.

Tỷ chính thất, con gái đầu nhà họ Phan, hiệu là Từ Đoài nhũ nhân. Giỗ ngày 29 tháng 12.

Khảo tỷ cùng mộ tại xứ Tiện Lược.

Tiên tổ khảo trước là xã trưởng Nhân Lý Nguyễn quý công tên chữ là Văn Hứa tên thuỵ là Thuần Cẩn phủ quân. Giỗ ngày mồng 4 tháng 12, mộ tại xứ Hậu Thôn.

Tỷ chính thất, con gái thứ 3 nhà họ Nguyễn, hiệu là Từ Đức nhũ nhân. Giỗ ngày 28 tháng giêng, mộ tại xứ Hậu Thôn.

Tỷ chính thất, con gái thứ 2 nhà họ Phan, hiệu là Từ Đán nhũ nhân. Giỗ ngày mồng 8 tháng 8, mộ tại xứ Hậu Thôn.

Tiên tổ khảo trước là Ưu binh, được sắc phong: “Phấn lực Tướng quân”, hiệu: “Lệnh tư Tráng sĩ”, thăng chức “Thiên hộ” Nguyễn quý công tên chữ là Viết Cẩm, tên thuỵ là Mẫn Đạt phủ quân. Giỗ ngày 20 tháng 5, mộ tại xứ Cơn Đào. (Ông sinh hạ ông Viết Hoằng)

Tỷ chính thất, con gái út nhà họ Nguyễn, hiệu là Từ Lan nhũ nhân. Giỗ ngày 12 tháng 6, mộ tại xứ Giếng Mới Trên.

Thọ Vượng công sinh được 2 con trai:

Tiên tổ khảo là cha của khoa viên, trước là cai hiệp kiêm hương sắc Nguyễn quý công tên chữ là Quang Trạch, tên thuỵ là Hoà Lạc phủ quân. Giỗ ngày 27 tháng 9, mộ tại xứ cồn Đãn.

Tỷ chính thất, con gái thứ 2 nhà họ Nguyễn, hiệu là Từ Căn nhũ nhân. Giỗ ngày 18 tháng 5, mộ tại xứ Cây Da cồn Đãn.

Tiên tổ khảo trước là trùm lão ở Nhân Lý, trải nhận các chức Cai tổng Nguyễn quý công tên chữ là Văn Quan, tên thuỵ là Chất Trực phủ quân. Giỗ ngày 27 tháng 11, mộ tại xứ Mã Bí (Cầu Rào)

Hiển khảo trước là cai hộ ở bản thôn Nguyễn tứ lang tên chữ là Viết Năng phủ quân. Giỗ ngày mồng 8 tháng 3, mộ tại xứ Tây Lang.

Đường thúc Nguyễn ngũ lang tên chữ là Viết Phục. Giỗ ngày mồng 5 tháng 5, mộ tại xứ Trung Đồng.

Đường cô Nguyễn Thị Chiến. Giỗ ngày mồng 6 tháng 3, mộ tại xứ Trong Đồng

Đường cô Nguyễn Thị Tiêu. Giỗ ngày mồng 9 tháng 9, mộ tại xứ Trong Đồng.

Viết Kỷ công sinh được:

Bản thôn xã trưởng, cai giáp bản giáp, cai tộc bản tộc Nguyễn quý công tên chữ là Viết Phú phủ quân.

 

 

 

 

Chi thứ 4 trở xuống:

 

Viết ? công sinh được 3 con trai:

Tiên tổ khảo (bố quan viên) trước là hương sắc, câu đương ở văn hội Nguyễn quý công tên chữ là Thọ Vượng phủ quân. Giỗ ngày 16 tháng 7, mộ tại cồn Cự Phú xứ Bắc.

Tỷ chính thất, con gái đầu nhà họ Võ, hiệu là Từ Thiêm nhũ nhân. Giỗ ngày 28 tháng 11, mộ tại xứ Cồn Hiệu.

Tiên tổ khảo trước giữ chức “Thí tướng sĩ lang”, tri sự ở điện Thừa Hoa kiêm hương sắc, Nguyễn quý công tên chữ là Viết Nguyên, tên thuỵ là Cương Trực phủ quân.

23

Viết Cương công sinh được 5 con trai 2 con gái:

Hiển khảo trước là cai hộ ở bản thôn, cai giáp ở bản giáp, tri tộc ở bản tộc, tri tổng ở bản tổng Nguyễn mạnh đường tên chữ là Viết Tráng tên thuỵ là Chất Trực phủ quân. Giỗ ngày mồng 3 tháng 3, mộ tại xứ Mả ???

Trước mộ binh linh ở Như Tây, được cấp bằng cho miễn sai dịch Nguyễn tam lang tên chữ là Viết Dũng phủ quân. Giỗ ngày mồng 6 tháng 5.

24

Viết Nhu công sinh được 3 con trai:

Hiển khảo trước theo binh ngũ Nguyễn trọng đường tên chữ là Văn Cửu phủ quân.

Tỷ chính thất, con gái đầu nhà họ Nguyễn hiệu là Từ Thiện nhũ nhân.


25

Viết Tán công sinh được 4 trai 2 gái.

Trưởng nữ lấy ông Ngô Trạc ở bản thôn, thứ nữ lấy ông Nguyễn Đắc ở bản thôn.

Đường bá trước là hương hiệu, nhiêu phuở bản thôn, cai xã ở bản xã kiêm tri tổng ở 2 tổng Nguyễn mạnh đường tên chữ là Viết Chuỳ, tên thuỵ là Cương Trực phủ quân. Giỗ ngày mồng 8 tháng 8, mộ tại xứ Tây Lang.

Hiển khảo trước là sinh đồ ở bản thôn, cai binh, cai tộc, Nguyễn trọng đường tên chữ là Viết Ngọc, tên huý là Hạp, tên thuỵ là Thuần Cẩn phủ quân. Giỗ ngày 20 tháng 5, mộ tại xứ Tây Lang.

Đường thúc trước là sinh đồ ở bản thôn Nguyễn thứ đường tên chữ là Viết ? phủ quân. Giỗ ngày 16 tháng giêng.

Đường thúc cai hộ ở bản thôn kiêm tri tộc ở bản tộc Nguyễn quý đường tên chữ là Viết Thiết tên thuỵ là Hoà Nhã phủ quân. Giỗ ngày 24 tháng 6.

Viết Hoà công sinh được 2 con trai:

Đường bá trước là sinh đồ ở bản thôn Nguyễn mạnh đường tên chữ là Viết Thu tên thuỵ là Cương Trực phủ quân. Giỗ ngày mồng 2 tháng 5.

Hiển khảo trước là ưu binh trải nhận chức ngũ trưởng ở bản đội Nguyễn mạnh đường tên chữ là Viết Quý tên thuỵ là Chính Trực phủ quân. Giỗ ngày mồng 9 tháng 7, mộ tại xứ Tường Thánh.

Tỷ chính thất, con gái đầu nhà họ Nguyễn, hiệu là Từ Duy nhũ nhân. Giỗ ngày mồng 4 tháng giêng, mộ tại xứ Cồn Lư.

Nguyễn nhị lang tên chữ là Viết Dậu.

Viết Giáo công sinh được 5 con trai 1 con gái:

Con gái lấy người trong làng, là mẹ của Vũ Hạp (Võ Hạp)

Hiển khảo trước theo nho học kiêm hương sắc ở bản thôn, hương mục ở bản giáp Nguyễn mạnh đường tên chữ là Viết Trung tên thuỵ là Chính Trực phủ quân. Giỗ ngày mồng 5 tháng 4.

Hiển khảo trước là ưu binh, trải nhận sắc phong chuẩn cho chức Chính đội trưởng. thăng lên quyền sung biện dịch Nguyễn trọng đường tên chữ là Viết Hoà tên thuỵ là Chính Trực phủ quân. Giỗ ngày mồng 2 tháng 2. Mộ tại xứ Ngoại Mặc (?)

Tỷ chính thất, con gái thứ 2 nhà họ Phan, hiệu là Từ Vi nhũ nhân.

Hiển khảo trước là xã trưởng ở bản thôn kiêm trùm giáp ở bản giáp Nguyễn thứ đường tên chữ là Viết Nhu tên thuỵ là Chất Trực phủ quân.

Tỷ kế thất, con gái thứ 2 nhà họ Nguyễn, hiệu là Từ Hằng nhũ nhân. Giỗ ngày 13 tháng 8.

Viết Nghiêm công sinh được 2 con trai:

Hiển tổ khảo trước là trùm ở bản thôn, cai binh kiêm cai xã, trùm giáp, hưởng thọ 71 tuổi Nguyễn quý công tên chữ là Di Kiên, tên huý là Tán, tên thuỵ là Chất Phác phủ quân. Giỗ ngày 27 tháng 2, mộ tại xứ Đồng Cửa.

Tỷ chính thất, con gái đầu nhà họ Nguyễn, hiệu là Từ Sâm Mẫn Uyển nhũ nhân (bà là người họ Nguyễn Thọ ở trong thôn). Giỗ ngày mồng 1 tháng 10, mộ tại xứ Tây Lang.

Tỷ kế thất, con gái thứ 2 nhà họ Phan, hiệu là Từ Đường nhũ nhân (bà người Thổ Hậu, tổng Lý Trai). Giỗ ngày mồng 1 tháng giêng xứ cồn Ngu (Chòi)

Đường cô Nguyễn Thị Tri, giỗ ngày mồng 2 tháng 1, mộ tại xứ Nước Dòng.

Đường thúc Nguyễn Viết Hùng, giỗ ngày mồng 5 tháng 6, mộ tại cồn Tố (?)

Viết Kính công sinh được 3 con trai:

Nguyễn nhất lang tên chữ là Viết Tăng, giỗ ngày 25 tháng 3, mộ tại Đồng Cửa.

Nguyễn nhị lang tên chữ là Viết Bính. Giỗ ngày mồng 6 tháng 2, mộ tại cồn Mặc.

Nguyễn tam lang tên chữ là Viết Thực. Giỗ ngày mồng 9 tháng 6.

Viết Cầm (? ) công sinh được 2 con trai 2 con gái:

Con gái đầu là Thị Nhâm, nay là mẹ của Phan Ban. Con gái thứ là Thị Căn lấy chồng...

Tỷ chính thất, con gái đầu nhà họ Nguyễn, hiệu là Từ ? nhũ nhân. Giỗ ngày 16 tháng 4, mộ tại xứ cồn Bôi.

Tỷ kế thất, con gái thứ 2 nhà họ Nguyễn, hiệu là Từ Sinh nhũ nhân. Giỗ ngày 30 tháng 9, mộ tại xứ Ao Uông.

Tằng tổ khảo trước là chính lý trưởng ở bản thôn, đăng hương lão, kiêm trùm giáp ở bản giáp, trải dự chức hương đình yến lễ Nguyễn quý đường tên chữ là Viết Giáo phủ quân. Giỗ ngày 30 tháng 8, mộ tại xứ Cửa Mặc.

Tỷ chính thất, con gái thứ 3 nhà họ Phan, hiệu là Từ Thục nhũ nhân. Giỗ ngày mồng 1 tháng 4, mộ tại xứ Cửa Mặc.

Tổ cô là chính thất nhà họ Phan, con gái thứ 2 họ Nguyễn ta, hiệu là Từ Song nhũ nhân. Giỗ ngày 15 tháng 5, mộ tại xứ Cồn Đán.


Tổ thúc Nguyễn quý công tên chữ là Viết Thiện tên thuỵ là Chính Trực phủ quân. Giỗ ngày 30 tháng 7, mộ tại xứ Cồn Lư (Lô)

Tỷ chính thất, con gái đầu nhà họ Phan, hiệu là Từ Định nhũ nhân. Giỗ ngày 29 tháng 5, mộ tại xứ Cồn Bôi.

29

Viết Sủng công sinh được 5 con trai:

Tằng tổ khảo trước giữ quyền suất đội, sau được truy tặng chức Chính đội trưởng, chánh lục phẩm Nguyễn quý công tên chữ là Viết Nghiêm tên thuỵ là Quả Cảm phủ quân. (Ông thừa phái bổ vụ ở Bắc Kỳ, bị tử vong khi lâm trận, con cháu chiêu hồn để trợ táng tại xứ Tây Lang, giỗ ngày 15 tháng 10)

Tỷ chính thất, con gái đầu nhà họ Phan, hiệu là Từ Thân nhũ nhân. Giỗ ngày 12 tháng 11, mộ tại xứ Tây Lang.

Tằng tổ khảo trước là câu đương ở văn hội của bản thôn Nguyễn quý công tên chữ là Viết Kính, thuỵ là Thuần Cẩn phủ quân. Giỗ ngày mồng 6 tháng 9, mộ tại Hậu Thôn.

Tỷ chính thất, con gái đầu nhà họ Phan, hiệu là Từ Khánh nhũ nhân, giỗ ngày 23 tháng 7, mộ tại xứ Mỏ Vịt.

Đường thúc Nguyễn Viết Doanh.

Đường thúc Nguyễn Viết Đăng.

Đường cô Nguyễn Thị Đỏ, Nguyễn Thị Đỏ (Đỏ tức là mất sớm)

Hợp kị vào 15 tháng 7.

Tằng tổ khảo trước là hương sắc ở bản thôn, trải dự lễ tiệc thọ, vâng nhận ơn thưởng lão nhiêu kiêm trùm hội hội y học, trùm giáp bản giáp Nguyễn thứ đường tên chữ là Mỹ Lợi, tên huý là Cầm, tên thuỵ là Mẫn Định phủ quân.

Giỗ ngày 17 tháng 5, mộ tại xứ Tây Lang.

Tỷ chính thất, con gái đầu nhà họ Nguyễn, hiệu là Từ Linh nhũ nhân. Giỗ ngày 16 tháng 2, mộ tại xứ Cồn Ngu.

Viết Thục công sinh được 3 con trai:

Đường bá Nguyễn nhất lang tên chữ là Viết Kiên tên thuỵ là Chất Phác phủ quân. Giỗ ngày 16 tháng 6.

Cao tổ khảo (cha của quan viên) trước là cai hiệp tư văn, trùm trưởng hội văn hội, trải nhận chức xã chính ở bản xã kiêm trùm tổng Nguyễn quý công tên chữ là Viết Lung tên thuỵ là Cương Trực phủ quân. Giỗ ngày 18 tháng 3, mộ tại xứ Cồn Lỗi.

Tỷ chính thất, con gái đầu nhà họ Nguyễn, hiệu là Từ Lâm nhũ nhân. Giỗ ngày mồng 10 tháng giêng. Mộ tại địa phân thôn Cự Phú.

Tỷ kế thất, con gái út nhà họ Phan, hiệu là Từ Xiển nhũ nhân. Giỗ ngày 12 tháng 11.

Tổ cô hiệu Từ Điệu nhũ nhân. Giỗ ngày mồng 2 tháng 12.

Tổ thúc Nguyễn quý công tên chữ là Viết Dĩnh tên thuỵ là Chất Phác phủ quân. Giỗ ngày mồng 9 tháng 9.

 

Chi thứ 3 trở xuống:

Viết Nhậm công sinh được 1 con trai:

Tiên tổ trước là xã trưởng Nhân Lý Nguyễn quý công tên chữ là Viết Thục tên thuỵ là Trung Hậu phủ quân. Giỗ ngày mồng 10 tháng 4.

Tỷ chính thất, hiệu là Từ Diệu nhũ nhân. Giỗ ngày mồng 5 tháng 6.

Ngoại tổ khảo trước là hương lão Võ quý công tên chữ là Đăng Cai phủ quân. Giỗ gày mồng 5 tháng 6. (Bên ngoại)

Viết Thoại công sinh được 2 con trai 3 con gái:

Xã trưởng Nguyễn mạnh đường tên chữ là Viết Hoạt phủ quân.

Xã trưởng ở bản xã Nguyễn trọng đường tên chữ là Viết Hưng phủ quân. Ông ở huyện Chân Lộc, sinh được 3 trai 2 gái.

Viết Bảo công sinh được 3 trai 1 gái:

Hiển khảo trước là xã trưởng ở bản thôn, vốn là Biện lại, cai binh, cai giáp, cai tộc ở bản tộc Nguyễn quý công tên chữ là Viết Trân, tên thuỵ là Cương Trực phủ quân. Giỗ ngày 25 tháng 2, mộ tại xứ Trung Đồng.

Tỷ chính thất, con gái đầu nhà họ Nguyễn hiệu là Từ An nhũ nhân. Giỗ ngày 25 tháng 10

Đường bá Nguyễn Danh Câu. Giỗ ngày 28 tháng 7.

Viết Trân công sinh được 2 con trai:

Hiển khảo trước là cai hộ ở bản thôn, cai thôn ở bản thôn, cai tộc ở bản tộc Nguyễn mạnh đường tên chữ là Viết Trọng tên thuỵ là Cần Mẫn phủ quân.

Tỷ chính thất, con gái thứ 2 nhà họ Phan, hiệu Từ Đớc.

Viết Minh công sinh hạ 3 con trai:

Tổ bá trước là nhiêu phu của làng Nguyễn mạnh đường tên chữ là Viết Tào phủ quân. Giỗ ngày 28 tháng 8, mộ tại cồn Bôi.

Tổ thúc Nguyễn nhị lang tên chữ là Viết Diêu (Dao) phủ quân.

Tổ thúc trước là nhiêu phu của làng, kiêm nghề thợ mộc Nguyễn quý đường tên chữ là Viết Thượng, thuỵ là Trung Trực phủ quân. Giỗ ngày 23 tháng 7, mộ tại cồn Bôi (trong cồn)

Tỷ chính thất, con gái đầu nhà họ Phan hiệu là Từ Đào nhũ nhân. Giỗ ngày 18 tháng giêng, mộ tại ruộng Nam cồn Bôi.

Viết Manh công sinh được một con trai:

Hiển tổ khảo trước là bô lão ở bản thôn, trải nhận chức phó sở kiêm thông hội của hội buôn, dạy dỗ học trò, Nguyễn quý công tên chữ là Viết Bảo, thuỵ là Chất Trực phủ quân. Giỗ ngày mồng 2 tháng 9, mộ tại xứ cồn Ngu.

Tỷ kế thất, con gái thứ 3 nhà họ Phan, hiệu là Từ Lưu nhũ nhân. Giỗ ngày 20 tháng 5, mộ tại xứ Hậu Thôn.

Tỷ chính thất, con gái thứ 3 nhà họ Phan, hiệu Từ Mở nhũ nhân. Giỗ ngày 21 tháng 10, mộ ở sau nhà.

Tằng tổ khảo hưởng thọ trung bình, trải nhận chức từ đường ở bản thôn kiêm chức hương mục Nguyễn quý công tên chữ là Sĩ ? . Giỗ ngày 25 tháng 8, mộ tại xứ Nước…

Tỷ chính thất, con gái đầu nhà họ Nguyễn, hiệu Từ Thuyên nhũ nhân. Giỗ ngày mồng 8 tháng 9, mộ ở trong đồng.

Ngày đó hợp kị khảo tỷ với 2 vị đường bá (bác họ) Văn Sĩ, Sĩ Hy. Lập các vong linh của Nguyễn Bổng, Nguyễn Kiểm, Nguyễn Huống, Nguyễn Thị đỏ…

Sĩ Ngạn công sinh được 3 con trai:

Hiển tổ khảo trước là hương lão Nguyễn mạnh đường tên chữ là Sĩ Tuyển phủ quân. Giỗ ngày 16 tháng giêng, mộ tại xứ Tây Lang.

Tỷ chính thất, con gái đầu nhà họ Ngô, hiệu Từ Bảng nhũ nhân. Giỗ ngày 21 tháng 11, mộ tại xứ Cồn Đán.

Tỷ kế thất, hiệu là Từ Nương nhũ nhân.

Tỷ trắc thất họ Võ hiệu là Từ Chiêm nhũ nhân, mộ tại xứ cồn Ngu.

Hiển tổ khảo trước là Ưu binh Nguyễn trọng đường tên chữ là Sĩ Cường phủ quân. Giỗ ngày 14 tháng 7, mộ tại xứ cồn Lận.

Sĩ Thân công sinh được 3 con trai:

Tằng tổ khảo trước là hương lão, trải nhận chức từ đường ở bản thôn Nguyễn quý công tên chữ là Sĩ Ngạn, thuỵ là Khoan Giản phủ quân. Giỗ ngày 14 tháng 3, mộ tại xứ Trung Giáp Tòng.

Tỷ chính thất, con gái thứ 2 nhà họ Phan, hiệu là Từ Nghị nhũ nhân. Giỗ ngày mồng 5 tháng 10, mộ tại xứ Lọc Tỉnh.

Tằng tổ khảo trước là hương lão ở bản thôn kiêm Ưu binh Nguyễn trọng đường tên chữ là Sĩ Huy, thuỵ là Chất Phác phủ quân. Giỗ ngày 24 tháng 4, mộ tại xứ Cồn Ngu.

Viết Bối công sinh được 1 con trai:

Đường bá Nguyễn Viết Ôn, mộ ở thôn Tòng.

Viết Toán công sinh được 2 con trai:

Đường bá trước là nhiêu học ở bản thôn, Nguyễn mạnh đường tên chữ là Viết Huyên, thuỵ Trung Trực. Giỗ ngày mồng 4 tháng 9, mộ tại thôn Tòng.

Hiển khảo trước là xã trưởng ở bản thôn, Nguyễn trọng đường tên chữ là Viết Thoại (?), thuỵ Chất Trực phủ quân.

Tỷ chính thất, con gái út nhà họ Ngô, hiệu Từ Miễn nhũ nhân.

Viết Đài công sinh được 2 con trai:

Tằng tổ khảo trước là hương lão kiêm thủ hộ Nguyễn mạnh đường tên chữ là Viết Minh, thuỵ Trung Trực phủ quân. Giỗ ngày 17 tháng 3, mộ tại Cửa Đồng.

Tỷ chính thất, con gái đầu nhà họ Trần, hiệu Từ Lược nhũ nhân. Giỗ ngày mồng 7 tháng 11, mộ tại xứ đồng cửa cồn.

Tằng tổ khảo trước là hương lão trùm trưởng Nguyễn trọng đường tên chữ là Viết Manh, thuỵ là Chất Trực phủ quân. Giỗ ngày 19 tháng 5, mộ tại xứ Cồn Mặc. Giỗ ngày mồng 10 tháng 4, mộ tại xứ Đồng Cửa.

Tỷ chính thất, con gái út nhà họ Nguyễn hiệu Từ Phẫn nhũ nhân. Giỗ ngày mồng 5 tháng 10.

Tằng tổ thúc Nguyễn tam lang tên chữ là Viết Toại.

Viết Phiệt công sinh được 4 con trai:

Hiển tổ khảo Nguyễn quý công tên chữ Liễn, thuỵ Chất Trực phủ quân. Giỗ ngày 21 tháng 11, mộ tại xứ Đồng Cửa.

Hiển tổ khảo trước là hương lão Nguyễn quý công tên chữ là Viết Toán, thuỵ Chất Trực phủ quân. Giỗ ngày 20 tháng 10, mộ tại xứ Hậu Thôn.

Tỷ chính thất, con gái đầu nhà họ Phan, hiệu Từ Trong nhũ nhân. Giỗ ngày 3 tháng12.

Đường thúc trước là Ưu binh Nguyễn quý công tên chữ là Viết Cán, thuỵ Cương Trực phủ quân.

Đương thúc Nguyễn tứ lang tên chữ là Viết Thuấn. Giỗ ngày 19 tháng 5, mộ ở xứ Đồng Cửa.

Viết Mỹ công sinh được 2 con trai;

Đường bá Nguyễn Viết Xuân, giỗ ngày 14 tháng 4.

Đường thúc Nguyễn Viết  Nghiên, giỗ ngày mồng 10 tháng 2

…Giỗ ngày mồng 10 tháng giêng, mộ tại xứ Đồng Cửa.

Tỷ chính thất, con gái đầu nhà họ Nguyễn, hiệu Từ Sâm nhũ nhân. Giỗ ngày mồng 10 tháng 9, mộ tại xứ Đồng Cửa.

Viết Ninh công sinh được 3 con trai:

Tằng tổ thúc trước là nhiêu nam Nguyễn quý công tên chữ là Viết Hương, thuỵ là Chất Trực phủ quân. Giỗ ngày 17 tháng 11, mộ tại xứ Mã Bí.

Tằng tổ thúc Nguyễn nhị lang tên chữ là Viết Khang. Giỗ ngày mồng 7 tháng 11, mộ ở xứ Đồng Cửa.

Tằng tổ thúc Nguyễn tam lang tên chữ là Viết Trung. Giỗ ngày 15 tháng 5, mộ ở xứ Đồng Cửa.

Viết Bảo công sinh được 3 con trai;

Tằng tổ khảo trước là ưu binh kiêm hương lão Nguyễn quý công tên chữ là Viết Phiệt, thuỵ Chất Trực phủ quân. Giỗ ngày mồng 2 tháng 6, mộ ở xứ Đồng Cửa.

Tỷ chính thất hiệu Từ Đình nhũ nhân, giỗ ngày 14 tháng 8, mộ ở cồn Đình.

Tằng tổ khảo trước là bậc cự Nho Nguyễn quý công tên chữ là Viết Mỹ, thuỵ Nhu Khắc phủ quân. Giỗ ngày 14 tháng 5, mộ ở đầu cồn.

Tỷ chính thất, con gái đầu nhà họ Nguyễn, hiệu Từ Dặm nhũ nhân. Giỗ ngày 17 tháng 3.

Viết Định công sinh được 2 con trai:

Cao tổ khảo trước là ưu binh Nguyễn quý công tên chữ là Viết Ninh, thuỵ Cương Trực phủ quân. Giỗ ngày 13 tháng 8, mộ ở trong đồng.

Tỷ chính thất, con gái thứ 3 nhà họ Phan, hiệu Từ Bảy nhũ nhân. Giỗ ngày 16 tháng 8, mộ ở xứ Mả Bí.

Cao tổ khảo trước là hương lão Nguyễn quý công tên chữ là Viết Bảo, thuỵ Khoan Hậu phủ quân. Giỗ ngày mồng 1 tháng 9, mộ ở cồn Chùa.

Tỷ chính thất, con gái thứ 2 nhà họ Nguyễn, hiệu Từ Hoá nhũ nhân. Giỗ ngày 20 tháng 10, mộ ở Mã Bí.

Viết Dưỡng công sinh được 1 con trai:

Cao tổ khảo trước là bô lão trong làng, Nguyễn quý công tên chữ là Viết Đài, thuỵ Trung Trực phủ quân.

Sĩ Đình công sinh 2 con trai:

Đường bá Nguyễn nhất lang tên chữ là Sĩ Bình. Giỗ ngày 20 tháng 12, mộ ở Tường Thánh.

Hiển khảo trước là tri sự ở bản thôn, hội trưởng hội học trò nhỏ Nguyễn quý công, tên chữ là Sĩ Đường, thuỵ Hiền Hậu phủ quân.

Chi thứ 2 trở xuống:

Viết Thường công sinh được 3 con trai:

Tiên tổ khảo trước là nhiêu nam, kiêm hương lão Nguyễn quý công tên chữ là Viết Định, thuỵ Thuần Hậu phủ quân. Giỗ ngày 12 tháng 7, mộ tại xứ Đồng Cửa.

Tỷ chính thất, con gái thứ 2 nhà họ Võ, hiệu Từ Thố nhũ nhân. Giỗ ngày 16 tháng 6, mộ tại xứ Mã Bí.

Tiên tổ khảo trước giữ chức Bách hộ Nguyễn quý công tên chữ là Viết Thỉnh, thuỵ Cương Trực phủ quân.

Tiên tổ khảo trước là hương lão, kiêm trùm trưởng Nguyễn quý công tên chữ là Viết Dưỡng, thuỵ Cương Trực phủ quân.

Hiển tổ khảo trước là ưu binh, trùm lão ở bản thôn, hưởng họ 82 tuổi Nguyễn quý đường tên chữ là Hữu… Giỗ ngày 27 tháng 12, mộ sau nhà.

Tỷ chính thất, con gái thứ 7 nhà họ Phan, hiệu Từ Nghiên nhũ nhân. Giỗ ngày 18 tháng 2, mộ ở xứ Hậu Thôn.

Trắc thất Cao Thị Định

Trắc thất của ông là bà Cao Thị Định, bà sinh con trai nhưng mất sớm. Xin với bản chi, tình nguyện không có nối dõi.Có bao nhiêu ruộng vườn đều làm văn tự, giao cho chi trưởng giữ lấy.

Sĩ Tuyển công sinh được 2 con trai:

Hiển khảo trước là hương lão ở bản thôn, Nguyễn mạnh đường tên chữ là Sĩ Thiệu phủ quân.

Đường thúc Nguyễn nhị lang tên chữ là Sĩ Mưu.

Sĩ Thịnh công sinh được 2 con trai:

Đường bá Nguyễn nhị lang tên chữ là Sĩ Tuynh (Tinh) phủ quân.

Hiển khảo Nguyễn trọng đường tên chữ là Sĩ Tứ phủ quân. Giỗ ngày 20 tháng 12, mộ tại đồng Cửa.

Sĩ Thuyết công sinh được 6 con trai 3 con gái. Hai con gái mất sớm, còn 1 người con gái thì lấy chồng …
Đường bá Nguyễn nhất lang tên chữ là Sĩ Câu.

Đường cô Nguyễn Thị Đệ.

Hiển khảo trước là sinh đồ ở bản thôn, tộc trưởng dòng họ, đảng viên đảng cộng sản Việt Nam, được huân chương Nguyễn trọng đường thuỵ Cương Trực phủ quân. Sinh ngày mồng 4 tháng 4 năm Bính Dần (1926)

Đường thúc Nguyễn tam lang tên chữ là Sĩ Đàm. Giỗ ngày mồng 3 tháng giêng (1933)

Đường cô hiệu là Từ Tam. Giỗ ngày mồng 1 tháng giêng.

Hiển khảo trước là sinh đồ ở bản thôn, đảng viên đảng cộng sản Việt Nam Nguyễn quý đường tên chữ là Sĩ Giáp, thuỵ là Cương Trực phủ quân.

Tỷ chính thất, hiệu Từ Thể nhũ nhân.

Hiển khảo trước là sinh đồ ở bản thôn Nguyễn quý đường tên chữ là Sĩ Đề (Sĩ Hồng), thuỵ Cương Trực phủ quân.

Tỷ chính thất, con gái thứ 4 nhà họ Ngô hiệu Từ Khanh nhũ nhân.

Tỷ hiệu Từ Kính nhũ nhân.

Lợi Chi công sinh được 2 nam 3 nữ.

Phó sở bản thôn Nguyễn trưởng phòng tên chữ là Văn Áng.

Thành Phủ công sinh được:

(không có)

Thông Phủ công sinh được:

Nguyễn Câu, giỗ ngày 12 tháng 11, mộ ở Trang Mi.

Nguyễn Câu, giỗ ngày mồng 2 tháng 12.

Nguyễn Thị Đễ, giỗ ngày 16 tháng giêng.

Hiển khảo trước là sinh đồ ở bản thôn, tộc trưởng dòng họ Nguyễn mạnh đường tên chữ là Sĩ Thuyết, thuỵ Cương Trực phủ quân, mất ngày 18 tháng 12.

Tỷ chính thất, thuỵ Cần Kiệm nhũ nhân.

Hiển khảo trước là sinh đồ ở bản thôn Nguyễn trọng đường tên chữ là Sĩ Nhượng, thuỵ Cương Trực phủ quân.

Tỷ con gái thứ 3 nhà họ Nguyễn thuỵ Cần Kiệm nhũ nhân

Dụ Chi công sinh được 3 con trai, 3 con gái. Con gái đầu mất sớm. Con gái thứ là Phác lấy người cùng thôn. Con gái út mất sớm.

Đường cô Nguyễn Thị Đễ. Giỗ ngày 17 tháng 8, mộ ở cồn Khoán.

Đường cô Nguyễn Thị Đễ. Giỗ ngày 20 tháng 12, mộ ở cồn Khoán.

Đặt ruộng thờ 2 sào ở cồn Điếm, phía đông gần Nguyễn Thân, phía tây gần Trần Ngạn.

Hữu Quang công sinh được 4 con trai 4 con gái. Con gái trưởng là Thị Thang lấy người cùng thôn họ Phan. Con gái thứ Thị Tịnh lấy Phan Thành người cùng thôn.

Hiển khảo trước là phó sở ở bản thôn, Nho trưởng ở văn hội, sinh đồ ở bản giáp Nguyễn mạnh đường tên chữ là Lợi Chi, tên huý là Bồn, thuỵ Cần Cán phủ quân. Giỗ ngày mồng 1 tháng 11, mộ ở cồn Phương (ruộng Nguyễn Bích)

Tỷ chính thất, con gái đầu nhà họ Phan.

Hiển khảo trước là phó sở ở bản thôn, cai tộc ở bản tộc, thọ 62 tuổi Nguyễn trọng đường tên chữ là Sĩ Bích, thuỵ Cương Trực phủ quân.

Đường thúc trước là cai hộ ở bản thôn Nguyễn nhị lang tên chữ là Sĩ Kiên phủ quân, mộ ở cồn Phương (ruộng Nguyễn Bích).

Đường thúc Nguyễn tam lang tên chữ là Sĩ Thịnh. Giỗ ngày mồng 5 tháng 7, mộ ở xứ Tứ Biên.

Con gái thứ 3 hiệu Thị Đỏ (tức mất sớm), mộ ở cồn Khoán.

Con gái thứ 4 hiệu Thị Đễ (mất sớm). Giỗ ngày mồng 1 tháng 11, mộ ở xứ cồn Khoán.

Những hương linh mất sớm đều đặt ruộng thờ 3 sào ở Uông Vực, đông gần Phan Nguyên, tây gần Nguyễn...

Đại Phủ công sinh được 3 con trai 4 con gái. Con gái đầu mất sớm, con gái thứ là Thị Phác lấy người cùng thôn là Nguyễn Kính. Con gái thứ lấy chồng sinh ra Tạ Thị Nghi. Con gái thứ nữa là Thị Đắc lấy ông họ Tạ Đình ở Bút Điền.

Đường thúc tên chữ là Sĩ Phiên. Giỗ ngày 14 tháng 4, mộ ở xứ cồn Phương.

Đường cô Nguyễn Thị Đễ. Giỗ ngày mồng 5 tháng giêng, mộ ở xứ Sau Dòng.

Hiển khảo trước là nghĩa tế ở bản thôn, cai hộ ở bản thôn Nguyễn quý đường tên chữ là Sĩ Thảo, thuỵ Cương Trực phủ quân. Giỗ ngày 24 tháng 10, mộ ở vườn Trang My.

Đệ tam lang tên chữ là Sĩ Câu (mất sớm). Giỗ ngày 24 tháng 2, mộ ở cồn Phương (ruộng Nguyễn Nghị)

Đệ tứ lang tên chữ là Sĩ Câu (mất sớm). Giỗ ngày mồng 2 tháng 3, mộ ở Trang My.

Đệ ngũ lang tên chữ là Sĩ Tuân. Giỗ ngày mồng 1 tháng 6, mộ ở xứ ... Liêu.

Đệ lục lang tên chữ là Sĩ Hưởng. Giỗ ngày mồng 10 tháng 3, mộ ở cồn Khoán, vườn Nguyễn Tấn.

Đệ thất lang tên chữ là Sĩ Câu. Giỗ ngày mồng 5 thàng 6, mộ ở cồn Khoán, vườn Nguyễn Tấn.

Đệ cửu lang tên chữ là Sĩ Ngữ. Giỗ ngày 20 tháng 8.

Nguyễn thị hàng nhất, hiệu Từ Nghiêm. Giỗ ngày 16 tháng 12, mộ tại Trang My.

Nguyễn thị hàng tam, hiệu thị Đễ, giỗ ngày 1 tháng 8.

Nguyễn thị hàng lục Nguyễn Thị Đễ, giỗ ngày 26 tháng 8, mộ ở cồn Khoán.

Hiển khảo trước là hương sắc ở bản thôn, cai giáp ở bản giáp, bản hạng cai hạng, bản tộc tiên chỉ, hưởng thọ 70 thuỵ Cương Trực phủ quân, mộ ở xứ Trang My.

Đường thúc Nguyễn tứ lang tên chữ là Sĩ Câu. Mộ tại cồn Phương, năm Bảo Đại thứ 3 thì lập mộ chí.

Đường thúc Nguyễn ngũ lang tên chữ là Sĩ Chính. Mộ ở cồn Phương, năm Bảo Đại thứ 3 thì lập mộ chí.

Đường cô Nguyễn Thị Nhuận. Mộ ở cồn Phương, năm Bảo Đại thứ 3 thì lập mộ chí.

Hợp kị ngày 23 tháng 9, hiện còn lưu 3 sào ruộng tế ở cồn Phương.

Tinh Phủ công sinh được 9 con trai 6 con gái. Con gái đầu Thị Doãn lấy người cùng thôn là Nguyễn Cẩn. Con gái thứ là Thị Thỉnh lấy Đặng Phú người thônThung Lĩnh. Thứ nữ Thị Đài lấy Phan Cấu người cùng thôn.

Hiển khảo trước theo văn học chính khoa dự thi hương, sinh đồ ở bản thôn, lý trưởng kiêm hương mục, trưởng hội văn hội, cai binh ở võ hội, sung thêm chức trương cán ở bản xã, tổng giáo ở bản tổng, thọ trên 60 Nguyễn mạnh đường tên chữ là Thông Phủ thuỵ là Cương Trực phủ quân. Giỗ ngày 30 tháng 12.

Tỷ chính thất, con gái thứ 2 nhà họ Phan, hiệu Từ Tô, tên huý là Hấn, hiệu Cần Kiệm nhũ nhân. Giỗ ngày mồng 4 tháng 9.

Đường bá trước là xã trưởng ở bản thôn Nguyễn trưởng phòng tên chữ là Sĩ Nhị phủ quân, sinh được 2 con gái. Giỗ ngày 12 tháng 5.

Sĩ Từ công sinh được 1 con trai 4 con gái, Con gái Thị Quảng lấy ông Ngô Kiên người cùng thôn.

Hiển tổ khảo trước thi hương trúng 1 trường, sinh đồ ở bản thôn, trưởng hội văn hội, hội hiệu hội nho – y, trưởng phái Nghĩa phái, trùm hạng ở bản hạng, kiêm xã hiệu ở bản xã, tổng giáo ở bản tổng, thọ trên 60 Nguyễn quý công tên chữ là Tinh Phủ, tên huý là Tường, thuỵ Cương Trực phủ quân. Sinh năm Bính Ngọ 1846, mất năm Bính Ngọ 1906. Giỗ ngày mồng 5 tháng 11, mộ ở xứ Trang My.

Tỷ chính thất, con gái đầu nhà họ Nguyễn, hiệu Từ Thương, huý là Sâm. Sinh năm Bính Tý, mất năm Canh Tý, bà là người họ Nguyễn Thọ ở cùng thôn. Giỗ giờ thân, ngày mồng 3 tháng 9, mộ ở vườn sau nhà.

Tỷ trắc thất, con gái đầu nhà họ Trần, hiệu Từ Phương nhũ nhân, người thôn Phú Điền. Giỗ ngày mồng 5 tháng 6, mộ ở xứ Trang My.

Đường cô Nguyễn Thị Xương, giỗ ngày 30 tháng 6.

Đường cô Nguyễn Thị Lang, giỗ ngày mồng 3 tháng 6.

Đường cô Nguyễn Thị Huy, giỗ ngày mồng 2 tháng 10, mộ tại Trang My. 3 cô hiện còn lưu tại xứ Lọc Phương.

Ái Phủ công sinh được 6 con trai 5 con gái. Con gái đầu Thị Thuần lấy ngwì họ Phan, nay là mẹ của Phan Tuy. Con gái thứ nay là mẹ của Phan Lân. Con gái út lấy người cùng thôn.

Tỷ chính thất, con gái đầu nhà họ Nguyễn, hiệu Hữu phúc nhũ nhân, tên huý là Độ. Giỗ ngày mồng 3 tháng giêng (mất vào giờ Dần), mộ ở Uông Vực.

Tỷ trắc thất, con gái đầu nhà họ Nguyễn, hiệu Từ Triển nhũ nhân. Bà là người họ Nguyễn ở giáp Thượng Thọ trong thôn. Giỗ ngày 29 tháng giêng, mộ ở xứ Trang My.

Hiển tổ khảo trước là thọ lão ở bản thôn, hương sắc, kiêm trùm hội hội Nho – Y, trùm hạng Lý Nhân, thọ 72 tuổi Nguyễn quý công tên chữ là Khánh Phủ, huý là Ân, thuỵ Phác Mẫn phủ quân. Giỗ ngày 18 tháng giêng, mộ ở cồn Phương. Năm Bảo Đại thứ 3 lập mộ chí.

Tỷ chính thất, con gái đầu nhà họ Ngô, tên huý là Hạt, hiệu Từ Khai nhũ nhân. Hưởng thọ 82 tuổi là người bản thôn. Giỗ ngày 26 tháng 11, mộ ở xứ cồn Điếm. Năm Bảo Đại thứ 3 lập mộ chí.

Đường cô Nguyễn Thị Đỏ, mộ ở ... Nãi, năm Bảo Đại thứ 3 lập mộ chí.

Đường cô Nguyễn Thị Đỏ, mộ ở cồn Khoán, năm Bảo Đại thứ 3 lập mộ chí. Hợp kị ngày 13 tháng 10, hiện còn lưu ruộng tế 4 sào, ở Lộc Điếm.

Sĩ Quần công sinh được 1 con trai:

Đường thúc Nguyễn nhất lang tên chữ là Sĩ Tăng, mộ ở cồn Đán, năm Bảo Đại thứ 3 lập mộ chí.

Sĩ Quý công sinh được 1 con trai 2 con gái.

Giỗ ngày 27 tháng 4, mộ ở xứ cồn Phương. Năm Bảo Đại thứ 3 lập mộ chí.

Tỷ Nguyễn môn chính thất, hiệu Từ Thiền nhũ nhân.

Tằng tổ khảo trước là hương lão ở bản thôn kiêm nhiêu phu Nguyễn trưởng phòng tên chữ là Sĩ Quý phủ quân. Giỗ ngày 17 tháng 3, mộ ở xứ Cây Đào.

Tỷ chính thất, con gái nhà họ Võ, hiệu Từ Đạm nhũ nhân. Giỗ ngày 25 tháng 8, mộ tại xứ Cơn Đào.

Tỷ kế thất, con gái họ Phan, hiệu Từ Diên nhũ nhân. Giỗ ngày mồng 6 tháng 7, mộ ở xứ Bờ Hoà.

Sĩ Thuân công sinh được 1 con trai.
Tằng tổ khảo Nguyễn quý công tên chữ là Sĩ Lương phủ quân.

Địch Cát công sinh được 2 con trai 5 con gái. Con gái đầu là Thị Diễm. Con gái thứ là mẹ của Trần Tập.

Hiển tổ khảo trước theo nghề y, là sinh đồ của làng  Nguyễn quý công tên huý là Huấn, thuỵ Trung Trực phủ quân. Giỗ ngày 29 tháng 9.

Tằng tổ khảo trước nguyên là nhiêu nam ở tổng, bản thôn cử làm sinh đồ ăn học ứng thi khoa thi hương, kiêm chức hương thân thông y thuật, địa lý, Nguyễn quý công tên chữ là Địch Cát, tên huý là Huệ, thuỵ Hoà Nhã phủ quân. Giỗ ngày 24 tháng 5. Ông có hơn trăm môn sinh theo học.

Tỷ chính thất, con gái đầu nhà họ Phan, hiệu Từ Thái nhũ nhân. Bà là người họ Phan giáp Thượng An ở bản thôn. Giỗ ngày 23 tháng 7. Niên hiệu Duy Tân (năm Nhâm Tý) thứ 6, vào ngày 13 tháng 7 cát táng khảo tỷ cùng nhau tại cồn Đán, ruộng Thu. Năm Bảo Đại thứ 3 năm Mậu Thìn thì lập mộ chí.

Tằng tổ khảo trước là hương lão Nguyễn quý công tên chữ là Sĩ Quyền phủ quân. Truyền rằng ông di cư vào Gia Định (Sài Gòn).

Nguyễn tam lang tên chữ là Viết Tề phủ quân. Giỗ ngày mồng 7 tháng giêng, mộ ở xứ đầu cồn. Năm Bảo Đại thứ 3 lập mộ chí.

Tằng tổ khảo trước là hương lão kiêm Ưu binh Nguyễn quý công tên chữ là Sĩ Quần phủ quân. Ông sinh 4 con gái, 1 người lấy chồng ở Cự Phú, 1 người lấy chồng ở Xuân Miêu, nay là mẹ của Phan Phác, 1 người lấy người họ Phan Thọ, 1 người lấy họ Trần, nay là mẹ của Trần Vĩnh.

Tỷ chính thất, hiệu Từ Doanh nhũ nhân. Giỗ ngày 23 tháng 3, mộ ở ruộng tây làng. Năm Bảo Đại thứ 3 lập mộ chí.

Tằng tổ khảo Nguyễn quý công tên chữ là Viết Suối phủ quân. Ông sinh được 1 con gái, nay là mẹ của Lương Toại.

Tỷ chính thất, con gái đầu nhà họ Phan, hiệu Từ Cập nhũ nhân.

Vượng Đạo công sinh được 2 con trai:

Cao tổ khảo trước là kỳ lão ở Nhân Lý Nguyễn mạnh đường tên chữ là Sĩ Phu, thuỵ Chất Trực phủ quân. Giỗ ngày 24 tháng 4, mộ ở xứ đồng Bí.

Tỷ chính thất, con gái út nhà họ Nguyễn, hiệu Từ Quân nhũ nhân. Giỗ ngày 14 tháng 7, mộ ở xứ cồn Lận điền.

Cao tổ khảo trước là hương lão kiêm ưu binh Nguyễn trọng đường ên chữ là Sĩ Thuân phủ quân. Giỗ ngày 17 tháng 9, mộ ở xứ Cơn Đào.

Tỷ chính thất, con gái đầu nhà họ Võ, hiệu Từ Truyền nhũ nhân. Giỗ ngày mồng 9 tháng 6, mộ ở xứ đồng Bí.

Tỷ kế thất, con gái đầu nhà họ Đoàn, hiệu Từ Đính nhũ nhân. Giỗ ngày 11 tháng 11, mộ ở xứ Cơn Đào.

Hồng Dung công sinh được 5 con trai 3 con gái.

Giỗ ngày mồng 2 tháng 4, mộ tại xứ Cơn Đào.

Tỷ chính thất, con gái đầu nhà họ Võ, hiệu Từ Đông nhũ nhân, giỗ ngày mồng 9 tháng 6, mộ ở xứ Cơn Đào.

Tiên tổ khảo, người thời Cảnh Hưng, trước từng nhận chức Cai bạ, gia phong Trung lang tướng, vinh phong Phó tham lĩnh Ngọc Đức hầu, sung nhận chức Tri phủ phủ Bình Thuận kiêm giáo tập ở nhà học chính Nguyễn tướng công tên chữ là Hồng Dung, thuỵ Minh Mẫn tiên sinh. Giỗ ngày 16 tháng 9, mộ ở bờ ao giáp Đông. Ông tên huý là Hàn để thờ phụng có công khai khẩn 2 tổng. Ông mất ở Thừa Thiên, người 2 tổng lượm quan và đưa về an táng ở chỗ ấy đã được trăm năm. Đến tháng 6 năm Nhâm Tý niên hiệu Duy Tân cát táng tại chỗ đó. Năm Bảo Đại năm thứ 3 thì lập mộ chí.

Tỷ chính thất, con gái thứ 2 nhà họ Phạm, hiệu Từ Hào nhũ nhân. Bà là người phủ Hưng Nguyên, toàn sinh con gái. Giỗ ngày mồng 4 tháng 10, mộ ở ruộng Trang Mi. Năm Bảo Đại năm thứ 3 thì lập mộ chí.

Tỷ kế thất, con gái thứ 2 nhà họ Võ, hiệu Từ Tâm nhũ nhân. Giỗ ngày mồng 2 tháng 7, táng tại phía tây ruộng chùa, trước văn chỉ. Năm Bảo Đại năm thứ 3 thì lập mộ chí. Năm Bảo Đại thứ 10 thì dời chôn ở xứ Cánh Hàn.

Tiên tổ khảo trước là lão nhiêu kiêm thập lý hầu Nguyễn quý công tên chữ là Sĩ Thân. Giỗ ngày mồng 10 tháng 10, mộ tại xứ Hậu Thôn.

Tỷ chính thất, con gái đầu nhà họ Thiều, hiệu Từ Khâm nhũ nhân.

Tiên tổ cô là con gái đầu của ông giám sinh, là chính thất ưu binh họ Ngô, hiệu Từ Thi nhũ nhân.

Tiên tổ cô là con gái thứ của ông giám sinh, là chính thất của bản phủ hiệu sinh họ Nguyễn, hiệu Từ Duyên nhũ nhân.

Tiên tổ cô là con gái út của ông giám sinh, là chính thất của thập lý hầu họ Hoàng, hiệu Từ Luỹ nhũ nhân.

Hiệu sinh Doãn Tấn công sinh được:

Tổ bá trước là hương lão Nguyễn quý công tên chữ là Doãn Thực phủ quân.

Tổ thúc tên chữ Doãn Thự phủ quân. Trong bài văn tế tiết trung nguyên có ghi rõ 4 chi phái tên hiệu khảo tỷ.

Trưởng chi:

Hiệu sinh Viết Giai công sinh được:

Tiên tổ khảo trước vâng nhận chức Thí tướng sĩ lang, tri sự ở điện Thừa Hoa, kiêm dạy dỗ các học sĩ, Nguyễn quý công tên chữ Trung Tín, thuỵ Công Trực phủ quân. Giỗ ngày 21 tháng 11, mộ tại ruộng cồn lận.Năm Mậu Thìn niên hiệu Bảo Đại thứ 3 sửa sang mộ chí.

Tỷ chính thất, con gái đầu nhà họ Nguyễn, hiệu Từ Trưng nhũ nhân. Giỗ ngày mồng 2 tháng 8, mộ ở xứ Cây Đào. Niên hiệu Bảo Đại thứ 3 sửa sang mộ chí.

Trung Tín công sinh được: 3 con trai:

Tiên tổ khảo trước là xã trưởng Nhân Lý kiêm hương sắc Nguyễn quý công tên chữ là Vượng. Giỗ ngày 12 tháng giêng, mộ ở xứ cây Đào.

Tỷ chính thất, con gái út nhà họ Ngô, hiệu Từ Phương nhũ nhân.

Tiên tổ khảo là con thứ 6 của ông giám sinh, trước là ưu binh, tước Cẩm Tài bá Nguyễn quý công tên chữ là Viết Trọng, thuỵ Minh Mẫn phủ quân.

Tỷ Nguyễn môn chính thất, con gái đầu nhà họ Võ hiệu Từ Nhàn nhũ nhân.

Tiên tổ khảo trước là con thứ 7 của ông giám sinh, trước là kỳ lão kiêm hương sắc Nguyễn quý công tên chữ là Viết Đồng, thuỵ Nhã Thực phủ quân. Giỗ ngày 16 tháng 11, mộ dưới cồn Bôi. Ông nay là tổ của chi thứ 4.

Tỷ Nguyễn môn chính thất, con gái thứ nhất nhà họ Bùi, hiệu Từ Nguyện nhũ nhân. Giỗ ngày mồng 10 tháng 6, mộ ở xứ cây Đào. Cả họ hương khói, có mộ chí.

Tiên tổ thúc Nguyễn bát lang tên chữ là Viết Do phủ quân. Giỗ ngày mồng 1 tháng 4, mộ ở xứ cây Đào.

Tiên tổ thúc là con thứ 9 của ông giám sinh, trước là hương lão Nguyễn cửu lang têm chữ Viết Cấu, thuỵ Mẫn Cấp phủ quân.

Tỷ chính thất, con gái út nhà họ Nguyễn, hiệu Từ Chiêm nhũ nhân.

Tiên tổ thúc là con thứ 10 của ông giám sinh, trước là hương lão kiêm dạy gỗ học trò Nguyễn quý côgn tên chữ Viết Nhân, thuỵ Cương Trực phủ quân. Giỗ ngày 15 tháng 9, mộ ở đồng Cửa.

Tỷ chính thất, con gái thứ 2 nhà họ Nguyễn, hiệu Từ Oanh nhũ nhân. Giỗ ngày mồng 7 tháng 5, mộ ở cây Đào.

Tiên tổ khảo là con trai trưởng của ông giám sinh trước là hiệu sinh của bản phủ kiêm hiệu trưởng Nguyễn quý công tên chữ Viết Giai, thuỵ Khoan Hậu tiên sinh. Giỗ ngày 26 tháng 6, mộ tại cồn lận. Nay ông là tổ của trưởng chi. (sinh năm Ất Hợi, tên huý là Cừu)

Tỷ chính thất, con gái thứ 2 nhà họ Cao, hiệu Từ Mẫn nhũ nhân. Giỗ ngày 23 tháng 3, mộ ở xứ cồn Bôi (sinh năm Mậu Tý 1780)

Tiên tổ khảo là con thứ 2 của ông giám sinh, trước là hương lão kiêm trùm trưởng Nguyễn quý công tên chữ Viết Thường thuỵ Hiền Hậu phủ quân. Giỗ ngày 27 tháng 6, mộ ở thôn sau. Nay ông là tổ của chi thứ 2.

Tỷ chính thất, con gái đầu nhà họ Trần, hiệu Từ Dương nhũ nhân.

Tiên tổ khảo là con thứ 3 của ông giám sinh, trước là ưu binh, tước Năng Tài bá Nguyễn quý công tên chữ Viết Tố, thuỵ Chính Trực phủ quân.

Tiên tổ khảo là con trai thứ 4 của ông giám sinh, trước là ưu binh kiêm chức câu đương, tước Nhậm Tài bá Nguyễn quý công tên chữ Viết Nhậm, thuỵ Cần Trực phủ quân. Giỗ ngày 13 tháng 5. Nay là tổ của chi thứ ... (4)

Tỷ chính thất, con gái đầu nhà họ Võ, hiệu Từ Nhã nhũ nhân.

Tiên tổ khảo là con thứ 5 của ông giám sinh, trước là bản phủ hiệu sinh kiêm hiệu trưởng.

Cập nhật: 25/06/2026